Nền tảng sinh học tự nhiên của chính trị
Phần mở đầu được viết cực kì cuốn hút và ấn tượng. Tác giả phân tích rằng có 4 đặc điểm tự nhiên là nền tảng cho sự phát triển chính trị của con người:
Hãy tóm tắt ý chính của từng đặc điểm:
Tính xã hội
Tất cả các kiến thức về trạng thái tự nhiên theo sinh học và nhân học hiện đại đều ủng hộ lập luận: các loại linh trưởng tiền thân của loại người đã phát triển các kĩ năng xã hội, bộ não được định sẵn các tính năng thúc đẩy nhiều hình thức hợp tác xã hội. Hai nguồn gốc tự nhiên của hành vi hợp tác là: chọn lọc huyết thống (1) và lòng vị tha tương hỗ (2).
Liên quan đến ý thứ nhất (1): điều cốt yếu trong tiến hóa sinh học là sự sống sót của bộ gen của loài sinh vật đó; điều này được nhà sinh học William Hamilton hệ thống hóa thành nguyên tắc chọn lọc huyết thống, cho rằng các cá nhân của bất kì loài sinh sản hữu tính nào sẽ cư xử một cách vị tha với họ hàng, tỉ lệ thuận với số lượng gen chung. Vì vậy, cha mẹ và con cái, anh chị em ruột, có chung 50% số gen với nhau sẽ cư xử vị tha với nhau hơn so với người ngoài.
Ý thứ 2 liên quan đến khả năng hợp tác với những người khác bộ gen hơn, gọi là lòng vị tha tương hỗ, được tìm thấy ở nhiều loài động vật. Dạng hợp tác này ban đầu vì lợi ích cá nhân, nhưng theo thời gian một dạng thức đạo đức được phát triển dựa trên sự hợp tác đã từng diễn ra trước đó, dựa trên những người tỏ ra trung thực và tin cậy.
Khác với những giải thích của một số nhà triết học trước đó cho rằng bản chất con người là những cá thể cô lập, thì tác giả cho rằng liên kết xã hội với các nhóm dựa trên huyết thống là hành vi tồn tại từ trước khi loài người hiện đại xuất hiện. Năng lực xã hội của con người là thứ gắn liền với bản chất con người, đã được mã hóa di truyền và xuất hiện tức thì khi các cá nhân tương tác với nhau, không phải là thứ mà chúng ta học được. Năng lực thiên bẩm này tuy có thể bị lấn át bởi các thể chế mới khuyến khích các loại hành vi khác (ví dụ khuyến khích lựa chọn người có năng lực hơn là người thân), nhưng nó là hình thái xã hội mà con người luôn lần tìm về khi các thể chế khác sụp đổ.
Khả năng trừu tượng hóa và lý thuyết hóa
Bộ gen của người và tinh tinh trung nhau khoảng 99%. Nhưng 1% khác biệt đã đem lại cho con người ngôn ngữ, tôn giáo, tư duy trừu tượng và những thứ tương tự. Sự phát triển của ngôn ngữ không chỉ giúp loài người phối hợp hành động trong thời gian ngắn, mà còn mở ra khả năng trừu tượng và lý thuyết hóa. Từ ngữ có thể ám chỉ các vật thể cụ thể (con chó, cái cây....) và các khái niệm trừu tượng chỉ các thế lực vô hình (thần Zeus, gravity,...). Kết hợp 2 thứ lại với nhau thì tạo ra các mô hình tư duy. Khả năng tạo ra các mô hình tư duy và gán các thế lực trừu tượng vô hình cho quan hệ nhân quả dẫn đến sự ra đời của tôn giáo.
Trong lịch sử, bản chất là tôn giáo đóng vai trò gắn kết xã hội trên quy mô lớn, để giải quyết các vấn đề tập thể. Tôn giáo đã giúp con người vượt qua được các xã hội cấp bầy đàn, để tiến lên các cấp độ xã hội cao hơn. (Dù rằng hiện nay, chúng ta đang thấy tôn giáo là nguyên nhân của rất nhiều xung đột và bạo lực)
Nguyên tắc tuân thủ
Việc con người tuân thủ nguyên tắc là quá trình trước hết dựa trên cảm xúc, thay vì duy lý. Não bộ của con người phát triển một số phản ứng cảm xúc nhất định tương đương với các cơ chế tự động thúc đẩy hành vi xã hội. Ví dụ, lòng biết ơn đối với sự tử tế của một ngươi xa lạ, hay sự tức giận với hành vi xấu vô cớ. Như vậy, hành động thường là sản phẩm của cảm xúc hơn là lý trí. Những phản ứng cảm xúc khiến con người trở thành biết tuân thủ và có quy tắc. Các năng lực tuân thủ đều có tính di truyền, còn các nội dung cụ thể của quy tắc thường được xác định theo văn hóa. Chính bản chất của nguyển tắc tuân thủ này đặt nền móng vững chắc cho việc hình thành tư tưởng về pháp quyền.
Nhu cầu được công nhận
Mong muốn được công nhận cũng có nguồn gốc sinh học. Mong muốn tìm kiếm sự công nhận đã được mã hóa di truyền cho nhiều loài động vật và có liên quan đến những thay đổi sinh hóa trong não bộ của những cá nhân tham gia tranh giành địa vị. Khi thành công trong việc đạt được địa vị cao, mức độ serotorin-chất dẫn truyền thần kinh quan trọng- sẽ tăng lên.
Ngày nay, ở góc độ tập thể, mọi người có nhu cầu được công nhận "bản sắc chính trị", mọi người đấu tranh không chỉ vì lợi ích cá nhân, mà còn vì lợi ích cộng đồng mình. Sự công nhận trở thành cơ sở của tính chính danh, và tính chính danh cho phép thực thi uy quyền chính trị. Ví dụ, trong xã hội phong kiến Trung Quốc, tính chính danh của Hoàng đế là gọi là Thiên Mệnh; trong các xã hội đương đại, tính chính danh hình thành qua các cuộc bầu cử dân chủ và sự tôn trọng pháp quyền.